Cổng chính của Văn Miếu Huế. (Ảnh: Lưu Ly, Wikipedia, Public Domain)
Khi vua Gia Long lên ngôi lập ra nhà Nguyễn đã chuyển Kinh đô từ Thăng long đến Phú Xuân (Huế). Vua cũng khuyến khích các địa phương miền trung và miền nam xây dựng Văn Miếu nhằm khuyến học, từ đó văn miếu các nơi được xây dựng, trong đó có Văn Miếu Huế.
Văn Miếu Huế được xây dựng năm 1808, nhưng dưới thời vua Gia Long, đất nước mới thống nhất và phát triển giáo dục, chưa có tổ chức kỳ thi lớn là thi Hội, nên không ai có tên trong Văn Miếu. Phải đến thời vua Minh Mạng, nhà Nguyễn mới tổ chức kỳ thi Hội và bắt đầu có tên sĩ tử đỗ đạt được khắc trong bia Văn Miếu Huế.
Người đầu tiên có tên trên bia Văn Miếu Huế là Nguyễn Ý. Ông sinh năm 1796 ở làng Vân La, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay là thôn Vân La, xã Hồng Vân, Hà Nội), trong gia đình có truyền thống hiếu học.
Theo dân gian, Nguyễn Ý từ bé đã giỏi văn chương đối đáp nên sớm trở thành thần đồng nổi tiếng lúc đó.
Năm 1821, Nguyễn Ý thi đỗ cử nhân, năm sau thì đến Kinh đô Huế dự thi Hội. Đây là khoa thi quan trọng vì là lần đầu tiên nhà Nguyễn tổ chức thi Hội, những người thi đỗ sẽ được khắc tên trên bia Văn Miếu Huế. Vua Minh Mạng ban dụ rằng: “Khoa thi Hội này là khoa đầu tiên, là điển lễ quan trọng, các ngươi nên rất mực công bằng, đừng phụ lời khuyên bảo của trẫm”.
Tham dự kỳ thi Hội, Nguyễn Ý xuất sắc đỗ đầu. Vào đến kỳ thi cuối cùng là thi Đình, Nguyễn Ý một lần nữa lại đỗ đầu tức Đình nguyên.
Khoa thi năm 1822 có 8 người đỗ và đây cũng là khoa thi đầu tiên các sĩ tử thi đỗ được khắc tên trên Văn Miếu Huế. Ngoài Nguyễn Ý đỗ đầu, 7 người con lại là Lê Tông Quang, Phan Hữu Tính, Hà Tông Quyền, Đinh Văn Phác, Vũ Đức Khuê, Phan Bá Đạt và Trần Lê Hiệu.
Trong bài Văn sách của mình, khi bàn về đạo trị quốc, Nguyễn Ý cho rằng: “Trị dân không gì trước hơn việc dạy học, trị quốc không gì quan trọng hơn nhân tài, tìm khắp hỏi rộng, thu nhận rộng, bồi dưỡng khắp, làm thế nào để có thể khiến cho chia mưu, chung nghĩ, sáng rõ công việc để đưa đến hiệu quả vô vi”.
Trong bài Văn sách của mình, Nguyễn Ý nói rằng nhân tài “như châu ở biển, ngọc trong núi tìm rất khó khăn, bồi dưỡng hết mức mới thu vét được ẩn sót. Vì thế cổ nhân mới có nỗi lo thiếu nhân tài vậy. Vâng điều thánh thu vét hiền tài, chọn lựa thu khắp, không để sót cỏ chỉ ở khi, hoa lan trong núi. Đường cầu hiền đã rộng, nhưng các sĩ tỏ rõ ở đức thường tự sẽ thu hút vào triều đình “người chín đức đều được làm việc”. Với người xưa thì khó ở được người, mà ngày nay được khắp thì lại không khó vậy”.
Tiếc rằng Nguyễn Ý chỉ làm quan chỉ 3 năm thì mất, bạn bè đã làm đôi câu đối ở đền thờ ông như sau:
Văn chương tiêu nhất giáp
Khoa đệ vĩ đồng châu.
Nghĩa là:
Văn chương giỏi nhất vùng
Bao la như châu thổ.
Người cuối cùng được khắc tên trên bia văn miếu Huế có liên quan đến họ Dương làng Vân Đình (thuộc huyện Ứng Hòa, Hà Nội), nổi tiếng về khoa bảng. Nói đến họ Dương ở đây thì không thể không nói đến anh em Dương Khuê và Dương Lâm. Các ông không chỉ làm quan thanh liêm mà còn để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa.
Dương Lân có người con trai là cử nhân Dương Tự Phan. Năm 1895, vợ chồng Dương Tự Phan sinh được người con trai, đặt tên là Dương Thiệu Tường.
Xuất thân trong gia đình có truyền thống khoa bảng, Thiệu Tường sớm được học chữ nghĩa, nhờ thông minh nên tiến bộ rất nhanh. Năm 1915, Thiệu Tường tham dự kỳ thi Hương tổ chức ở Hà Nam và đỗ cử nhân.
Lúc này nhà Nguyễn phải chấp nhận sự bảo hộ của người Pháp. Người Pháp ra các điều lệnh xem chữ la-tinh là quốc ngữ, chữ Nho không còn được xem trọng. Các giáo huấn do Triều đình bổ nhiệm bị người Pháp yêu cầu bãi bỏ vì họ chỉ biết chữ Nho mà không biết quốc ngữ la-tinh.
Năm 1915 dưới áp lực của chính quyền Pháp, Triều đình nhà Nguyễn tổ chức kỳ thi Hương có cả tiếng Pháp.
Năm 1919, Triều đình tổ chức khoa thi. Đây là khoa thi cuối cùng sau 845 năm lịch sử khoa bảng của nước nhà. Vua Khải Định xuống chỉ dụ: “Kỳ thi năm nay là khoa thi cuối cùng, đường khoa cử từ nay dứt hẳn”.
Đặc biệt kỳ thi Hội này, trường tứ có tiếng Pháp: Thi 3 bài luận tiếng Pháp – 1 bài dịch từ tiếng Pháp sang chữ Hán, 1 bài dịch từ chữ quốc ngữ sang chữ Pháp và 1 bài chính tả viết bằng tiếng Pháp.
Bài thi tiếng Pháp do Tòa Khâm sứ Pháp ra đề, Tòa Khâm sứ cũng chỉ định 1 người Pháp làm giám khảo.
Sau khi tổ chức thi Hội và thi Đình, 7 người được công bố thi đỗ đều được khắc tên vào bia Văn Miếu Huế. Đây cũng là khoa thi cuối cùng được khắc vào bia Văn Miếu. Người đỗ đầu là Nguyễn Phong Di, người đỗ thứ 7 cũng là người trẻ tuổi nhất thi đỗ là Dương Thiệu Tường 24 tuổi.
Trong 7 người đỗ đạt được khắc bia trên Văn Miếu Huế, Dương Thiệu Tường đỗ thứ 7 cuối cùng nên được khắc cuối cùng. Ông là người được khắc bia cuối cùng tại Văn Miếu Huế.
Tổng cộng Văn Miếu Huế có 32 tấm bia, khắc tên 293 vị Tiến sĩ triều Nguyễn, bắt đầu từ khoa thi đầu tiên năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đến khoa thi cuối cùng vào năm Khải Định thứ 4 (1919).
Thi đỗ, Dương Thiệu Tường được bổ nhiệm vào làm ở Viện cơ mật, sau đó làm Tri phủ Bình Giang, Ninh Giang, Kiến Xương. Rồi sau đó ông làm Tuần phủ và Tổng đốc các tỉnh khác nhau.
Con cháu Dương Thiệu Tường nối tiếp truyền thống họ Dương trở thành những người trí thức như giáo sư nông nghiệp Dương Hồng Hiên, GS.TS Dương Thiệu Tống (Đại học Sư phạm TPHCM), GS Dương Thiệu Lễ, GS.TS Dương Nghiệp Chí, GS.TS Dương Hồng Chương.
Trần Hưng
Xem thêm:
Mời xem video:
Bộ Nội vụ cho biết Bộ Chính trị thống nhất phương án điều chỉnh tăng…
Trong mạng lưới tội phạm này, nhiều thủ phạm chủ chốt là trẻ vị thành…
Sinh viên đại học ngày nay cho rằng việc chọn một ngành học "miễn nhiễm…
Hiện Nhật Bản đã đạt mục tiêu chi tiêu quốc phòng tương đương 2% GDP.
Ngôn ngữ là cầu nối giữa người với người, cũng là phương tiện quan trọng…
Tối thứ Hai (27/4), tại Bekasi, Indonesia, một đoàn tàu điện commuter (tàu chở khách…